Chiến tranh biên giới Việt - Trung (2-1979)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đình Tú (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:50' 18-02-2013
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đình Tú (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:50' 18-02-2013
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3
tiến quân chính của Trung quốc xâm lược Việt Nam 1979
Thời gian
17 tháng 2 – 18 tháng 3 năm 1979
Địa điểm
Toàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.
Nguyên nhân bùng nổ
Căng thẳng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thập niên 1970
Kết quả
Trung Quốc rút quân. Cả hai phía tuyên bố chiến thắng.
Thay đổi lãnh thổ
Không thay đổi đáng kể
Tham chiến
Giải phóng quân Trung Quốc
Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy
Dương Đắc Chí Hứa Thế Hữu
Văn Tiến Dũng Đàm Quang Trung Vũ Lập
Lực lượng
300.000-400.000+ bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải (theo Việt Nam có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến)[1](lực lượng của 7 quân đoàn với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị)[2]
60.000-100.000 (7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)[2]
Tổn thất
Tranh cãi, 20.000+ bị giết [3]Việt Nam tuyên bố 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy. [3] Nguồn 2: ~13.000 chết[4] Trung Quốc tuyên bố 6.900 chết, 15.000 bị thương[1]
Tranh cãi, 20.000 chết hoặc bị thương.[1] Nguồn 2: ~8.000 chết[4] Trung Quốc tuyên bố 30.000 chết.[3] Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường bị thiệt mạng[1]
Mục lục
1 Tên gọi
2 Bối cảnh
2.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
2.2 Xung đột khu vực
3 Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc
4 Tương quan lực lượng tham chiến
5 Diễn biến
5.1 Chuẩn bị
5.2 Giai đoạn 1
5.3 Giai đoạn 2
5.4 Rút quân
6 Chiến dịch dân vận của Trung Quốc
7 Phản ứng quốc tế
8 Kết quả cuộc chiến
8.1 Thương vong và thiệt hại
8.2 Đánh giá
8.3 Hậu chiến
1. Tên gọi
Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, 1979 hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989),.
Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3.
2.Bối cảnh
2.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moscow lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ. Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội. Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Ông rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3
tiến quân chính của Trung quốc xâm lược Việt Nam 1979
Thời gian
17 tháng 2 – 18 tháng 3 năm 1979
Địa điểm
Toàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.
Nguyên nhân bùng nổ
Căng thẳng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thập niên 1970
Kết quả
Trung Quốc rút quân. Cả hai phía tuyên bố chiến thắng.
Thay đổi lãnh thổ
Không thay đổi đáng kể
Tham chiến
Giải phóng quân Trung Quốc
Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy
Dương Đắc Chí Hứa Thế Hữu
Văn Tiến Dũng Đàm Quang Trung Vũ Lập
Lực lượng
300.000-400.000+ bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải (theo Việt Nam có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến)[1](lực lượng của 7 quân đoàn với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị)[2]
60.000-100.000 (7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)[2]
Tổn thất
Tranh cãi, 20.000+ bị giết [3]Việt Nam tuyên bố 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy. [3] Nguồn 2: ~13.000 chết[4] Trung Quốc tuyên bố 6.900 chết, 15.000 bị thương[1]
Tranh cãi, 20.000 chết hoặc bị thương.[1] Nguồn 2: ~8.000 chết[4] Trung Quốc tuyên bố 30.000 chết.[3] Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường bị thiệt mạng[1]
Mục lục
1 Tên gọi
2 Bối cảnh
2.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
2.2 Xung đột khu vực
3 Mục đích và mục tiêu của Trung Quốc
4 Tương quan lực lượng tham chiến
5 Diễn biến
5.1 Chuẩn bị
5.2 Giai đoạn 1
5.3 Giai đoạn 2
5.4 Rút quân
6 Chiến dịch dân vận của Trung Quốc
7 Phản ứng quốc tế
8 Kết quả cuộc chiến
8.1 Thương vong và thiệt hại
8.2 Đánh giá
8.3 Hậu chiến
1. Tên gọi
Cuộc chiến được phía Việt Nam gọi là Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, 1979 hay Cuộc chiến chống bè lũ bành trướng phương bắc. Phía Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) (trên nghĩa rộng là chỉ xung đột biên giới Việt-Trung trong gần mười năm từ năm 1979 đến năm 1989),.
Nhiều nhà nghiên cứu coi cuộc chiến này là một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3.
2.Bối cảnh
2.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moscow lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ. Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian. Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội. Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Ông rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973. Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".






TVM xin chao thay NDT. chuc thay buoi sang tot lanh. buoi chieu may man va buoi toi tran day niem vui.
TVM xin chào và chúc sức khỏe thầy Tú. Mong thầy bớt chút thời gian ghé thăm và chia sẻ cùng TVM. Trân trọng cảm ơn thầy.
Việt Phương xin gia nhập trang chủ nhà, sớm mời thầy ghé thăm nhà http://violet.vn/dvpthcsnt/ để cùng giao lưu chia sẻ kinh nghiệm. Trân trọng kính mời thầy !